Nội dung 2
Nội dung 3

khoa ung bướu bệnh viện thu cúc

khoa ung bướu bệnh viện thu cúc
Hiển thị các bài đăng có nhãn ung thư vú. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ung thư vú. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 3 tháng 5, 2018

Người bị ung thư vú không nên ăn gì

Bệnh ung thư vú có tỉ lệ mắc rất cao ở phụ nữ. Tuy tỉ lệ mặc cao nhưng cơ hội chữa khỏi cũng khá tốt. 

Sau khi điều trị ung thư vú người bệnh cần có chế độ dinh dưỡng phù hợp đảm bảo sức khỏe. Ngoài ra cần nên vận động cơ thể để cải thiện sức khỏe sau điều trị. việc ăn uống cũng nên  cân đối và khoa học hơn. Đảm bảo đủ chất nhưng không ảnh hưởng tới sức khỏe hoặc dễ làm ung thư vú tái phát.

Tham khảo thêm: ung thư vú nên ăn gì

Một số đồ ăn nước uống người bệnh không nên dùng:
  • Tránh những loại thịt được chế biến dưới nhiệt độ cao như chiên, rán, nướng… bởi chúng sẽ tạo ra các chất làm tăng nguy cơ mắc ung thư cũng như làm ung thư vú có nguy cơ tái phát trở lại.

Người bệnh ung thư vú không nên ăn những thực phẩm chiên rán, nhiều dầu mỡ, chế biến sẵn
Người bệnh ung thư vú không nên ăn những thực phẩm chiên rán, nhiều dầu mỡ, chế biến sẵn
  • Kiêng ăn thịt đỏ như thịt bò, thịt cừu, thịt chó…
  • Kiêng ăn những thực phẩm ngọt như kẹo bởi chúng chứa nhiều đường. Lượng đường carbohydrates tinh chế trong thực phẩm sẽ làm tăng lượng glucose trong máu cao, cơ thể của giải phóng nhiều insulin – nâng cao mức độ estrogen và bệnh ung thư vú tái phát, người ung thư vú phải nhớ kỹ điều này.
  • Tránh các chất kích thích như rượu bia.
  • Các loai thức ăn gây dị ứng vì chúng làm suy yếu hệ miễn dịch trong cơ thể như: baba, tôm, cua, rươi…
Một chế độ dinh dưỡng chuẩn cộng với vận động cơ thể phù hợp sẽ giúp người bệnh sống khỏe và sống lâu hơn .

Ngoài ra việc kiểm tra ung thư vú định kỳ nhất định không được thờ ơ. Đi khám đúng hẹn theo dõi tình trạng nếu ung thư vú tái phát bác sĩ kịp thời xử lý.

Thứ Ba, 5 tháng 7, 2016

Hướng dẫn cách tự khám ung thư vú

Ung thư vú rất phổ biến ở phụ nữ, mọi lứa tuổi từ 20 đến 65 đều có nguy cơ mắc ung thư vú. Tuy phổ biến nhưng may mắn ung thư vú dễ phát hiện sớm biểu hiện triệu chứng và có tiên lượng tốt hơn ở những giai đoạn đầu.
Việc tầm soát ung thư vú khá đơn giản nếu bạn chưa có điều kiện để đi bệnh viện  kiểm tra thì cũng có thể tự khám tầm soát ung thư vú tại nhà được.
Hãy làm theo những hướng dẫn dưới đây:


Bước 1: Đứng trước gương và cởi bỏ áo
Nơi lý tưởng nhất để tự khám vú là phòng tắm, hoặc phòng ngủ, nơi có gương soi và ánh sáng tốt.

Bước 2: Dùng tay để kiểm tra ngực

Nâng cánh tay phải lên trên đầu, và dùng tay trái để kiểm tra vú phải. Dùng đệm ngón tay và chuyển động tròn từ đầu vú cho tới nách sao cho hết phần vú để phát hiện:
– Có sự thay đổi nào ở viền ngực không?
– Có khối u nào trong ngực hay không?
– Vú có bị sưng hay không?
– Da vùng vú có lồi lõm bất thường không?
– Có sự thay đổi ở núm vú không? 
Đổi tay trái lên trên đầu và dùng tay phải kiểm tra vú trái, tương tự như trên.
Bước 3: Giơ 2 tay lên đầu và quan sát trước gương
Nâng 2 cánh tay giơ lên đầu, và quan sát trước gương xem có các dấu hiệu bất thường như vừa nêu ở bước 2 hay không.

Bước 4: Đặt cánh tay đối diện ra sau cơ ngực và ấn lòng bàn tay xuống để phát hiện xem ngực có bất thường như lồi lõm, nhăn nheo, khác thường về hình dạng không.


Bước 5: Nằm xuống
Bạn nên kê 1 chiếc gối hoặc chiếc khăn tắm ở vai, giơ tay phải lên trên đầu. Tiếp theo, dùng tay trái chuyển động tròn từ núm vú dần ra tới nách, sao cho bạn không bỏ sót phần nào của vú.
Làm ngược lại để kiểm tra vú còn lại và tìm kiếm xem có dấu hiệu nào bất thường không.
Tiếp theo, bạn dùng tay bóp núm vú xem có dịch, nước, hay máu chảy ra không.
Nếu gặp các dấu hiệu bất thường như có cục u trong ngực, hình dạng vú biến đổi, lồi lõm, nhăn nheo bất thường, vú bị sưng, hay núm vú tiêt dịch, vv… cần tới ngay bệnh viện để kiểm tra.

Thứ Sáu, 15 tháng 1, 2016

Vì sao cần tầm soát ung thư

Ai cũng biết ung thư là căn bệnh hiểm nghèo , mắc ung thư coi như nhận án tử treo lơ lửng. Chỉ có những người may mắn phát hiện ung thư sớm do đi khám bệnh là cơ hội kéo dài sự sống cao, có những loại còn chữa khỏi như ung thư vú, ung thư trực tràng...
Mỗi năm, Việt Nam có khoảng 110.000 trường hợp mắc ung thư mới và hơn 73% trong số đó tử vong. Với con số này, Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ tử vong do ung thư cao nhất trên thế giới.
Vì sao cần tầm soát ung thư?
kho-tho
Bệnh ung thư thường không gây ra triệu chứng sớm, khi người bệnh nhận thấy bất thường thì ung thư đã lan rộng.
  • Môi trường sống của chúng ta ngày càng ô nhiễm, khói bụi
  • Thực phẩm chứa nhiều hóa chất độc hại, tồn dư thuốc trừ sâu, vv…
  • Thói quen sống của con người ngày càng kém lành mạnh như hút thuốc lá, uống rượu nhiều, ít vận động, quan hệ tình dục không bảo vệ, chế độ ăn uống không lành mạnh.
  • Ung thư thường không gây ra triệu chứng ở giai đoạn sớm. Do vậy, nếu đợi khi có triệu chứng mới đi khám, thường là khi bệnh đã lan rộng, và cơ hội sống đã giảm nhiều lần.
=>>Tầm soát ung thư là cách duy nhất giúp phát hiện ung thư sớm, tăng cơ hội sống và điều trị thành công, trước khi bệnh gây ra triệu chứng. Đối với một số bệnh ung thư, tầm soát ung thư còn giúp phát hiện tổn thương, tiền ung thư và điều trị ngăn ngừa ung thư phát triển, chẳng hạn ung thư cổ tử cung, ung thư đại trực tràng, vv…

Phát hiện sớm ung thư có vai trò vô cùng quan trọng, giúp:
  • Điều trị dễ dàng, đối với giai đoạn sớm, phương pháp điều trị chính là phẫu thuật loại bỏ khối u, có thể không cần hỗ trợ thêm hóa trị hay xạ trị.
  • Ít biến chứng. Càng phát hiện sớm, việc điều trị càng ít hơn, ít gây biến chứng về sau, ít ảnh hưởng đến chức năng của các cơ quan, và đối với nhiều người còn có thể bảo toàn khả năng sinh sản, ít ảnh hưởng đến sức khỏe và diện mạo.
Các xét nghiệm tầm soát ung thư
co-nen-tam-soat-ung-thu-toan-than1Khám lâm sàng và hỏi bệnh sử: 
Bác sĩ sẽ kiểm tra về các dấu hiệu chung về sức khỏe người bệnh, chẳng hạn như khối u hoặc dấu hiệu bất thường. Ngoài ra, tiền sử bệnh gia đình hoặc cá nhân, các phương pháp điều trị đã từng thực hiện cũng là những yếu tố cần xem xét trước khi tầm soát ung thư.
Dưới đây là những xét nghiệm thường dùng trong tầm soát ung thư:
Xét nghiệm: bao gồm các xét nghiệm mẫu mô, máu, nước tiểu, hoặc các chất khác trong cơ thể.
Chẩn đoán hình ảnh: Các chẩn đoán hình ảnh giúp hiển thị hình ảnh của các khu vực bên trong cơ thể. Các chẩn đoán hình ảnh thường sử dụng trong chẩn đoán ung thư là nội soi, siêu âm, chụp X-quang, chụp CT, chụp MRI, chụp PET, vv…
Xét nghiệm di truyền: Các xét nghiệm nhằm tìm kiếm một số gen đột biến (thay đổi gen) có liên quan tới một số bệnh ung thư.
Vì vậy có thể nói Tầm soát ung thư là một cách để bảo vệ sức khỏe và sự sống của mình

Thứ Sáu, 27 tháng 2, 2015

Một số nguy cơ ung thư vú từ lối sống

Khoa ung bướu Bệnh viện đa khoa quốc tế Thu cúc - thông tin mang tính chất tham khảo. Mọi áp dụng thực tế cần được sự tư vấn và chỉ định trực tiếp từ bác sĩ.
Nguyên nhân gây ung thư vú vẫn là vấn đề chưa được lý giải rõ ràng. Bên cạnh các yếu tố mang tính di truyền, không thể thay đổi như giới tính, tuổi tác, tiền sử mắc bệnh của gia đình… một số yếu tố liên quan đến lối sống cũng được xác định có thể gây ung thư vú.
Có con

Những phụ nữ chưa có con hoặc có con đầu lòng sau năm 30 tuổi có nguy cơ mắc ung thư vú cao hơn so với tổng thể.
Những phụ nữ chưa có con hoặc có con đầu lòng sau năm 30 tuổi có nguy cơ mắc ung thư vú cao hơn so với tổng thể. Mang thai và mang thai ở tuổi còn trẻ nhìn chung sẽ làm giảm nguy cơ ung thư vú. Tuy nhiên hiệu quả của việc mang thai là khác nhau đối với từng loại ung thư vú. Cụ thể đối với những người mắc ung thư vú thể âm tính với 3 thụ thể hormone thì việc mang thai lại làm tăng nguy cơ phát triển bệnh ung thư vú.
Sử dụng biện pháp phòng tránh thai
Thuốc tránh thai: các nghiên cứu đã chỉ ra rằng những phụ nữ sử dụng thuốc tránh thai có nguy cơ ung thư vú cao hơn so với những người chưa bao giờ sử dụng. Nguy cơ này trở lại bình thường khi ngừng sử dụng thuốc tránh thai. Do đó khi có nhu cầu sử dụng thuốc tránh thai, nên tham khảo ý kiến của bác sỹ để được biết các lợi ích cũng như rủi ro liên quan tới sức khỏe.
Depot-medroxyprogesterone acetate (DMPA; Depo-Provera) là một hình thức tiêm progesterone được sử dụng 3 tháng/lần để kiểm soát sinh sản. Một vài nghiên cứu đã xem xét ảnh hưởng của DMPA đối với nguy cơ ung thư vú và phát hiện thấy những phụ nữ sử dụng DMPA có rủi ro mắc ung thư vú. Tuy nhiên với những trường hợp đã ngừng sử dụng DMPA từ 5 năm trước không làm tăng nguy cơ ung thư vú.
Sử dụng liệu pháp hormone thay thế sau mãn kinh
Liệu pháp hormone thay thế là liệu pháp sử dụng estrogen (thường kết hợp với progesterone) để điều trị các triệu chứng của thời kỳ mãn kinh và giúp ngăn ngừa loãng xương.
Liệu pháp hormone thay thế có hai loại chính. Đối với những phụ nữ vẫn có tử cung (dạ con) thường sử dụng kết hợp estrogen và progesterone. Bởi vì estrogen khi dùng đơn độc sẽ  làm gia tăng nguy cơ ung thư tử cung. Đối với những phụ nữ đã cắt tử cung có thể chỉ sử dụng estrogen.

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng sử dụng liệu pháp hormone thay thế (kết hợp estrogen và progesterone) sẽ làm tăng nguy cơ ung thư vú ở phụ nữ.
Tuy nhiên nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng sử dụng liệu pháp hormone thay thế (kết hợp estrogen và progesterone) sẽ làm tăng nguy cơ ung thư vú ở phụ nữ. Ngoài ra sử dụng liệu pháp hormone này còn làm giảm hiệu quả của việc chụp X quang tuyến vú bằng cách làm cho mô vú dày đặc hơn, dẫn tới tình trạng bệnh được phát hiện muộn.
Nếu có ý định sử dụng liệu pháp hormone thay thế trong điều trị các triệu chứng mãn kinh, phụ nữ nên sử dụng trong thời gian ngắn với liều lượng thấp nhất có thể.
Cho con bú
Một số nghiên cứu phát hiện ra rằng cho con bú có thể làm giảm nguy cơ ung thư vú, đặc biệt nếu con bú từ 6 tháng đến 2 năm.
Uống rượu

Uống rượu làm tăng nguy cơ phát triển ung thư vú.
Uống rượu làm tăng nguy cơ phát triển ung thư vú. Tiêu thụ rượu càng nhiều thì nguy cơ mắc bệnh càng tăng. So với những người không uống rượu thì những người uống rượu 3 lần/tuần có nguy cơ mắc ung thư vú cao hơn 15%. Các chuyên gia ước tính rằng nguy cơ mắc bệnh ung thư vú còn tăng thêm 10% đối với những phụ nữ sử dụng rượu, bia hàng ngày.
Thừa cân hoặc béo phì
Tình trạng thừa cân hoặc béo phì sau mãn kinh sẽ làm tăng nguy cơ ung thư vú. Trước khi mãn kinh, phần lớn estrogen trong cơ thể là do buồng trứng tiết ra. Sau mãn kinh, buồng trứng ngừng sản xuất estrogen, hầu hết estrogen của phụ nữ lúc này là từ mô mỡ. Do đó những phụ nữ bị béo phì, thừa cân sau mãn kinh, có nhiều mô mỡ sẽ có nồng độ estrogen cao, kéo theo nguy cơ ung thư vú tăng.
Ngoài ra những người thừa cân thường có nồng độ insulin trong máu cao. Nồng độ insulin cao có liên quan tới một số bệnh ung thư, trong đó có ung thư vú.
Yếu tố có liên quan tới lối sống là yếu tố mà chúng ta có thể tác động và thay đổi để hạn chế nguy cơ ung thư vú.

TS. BS Pactricia Kho đang tư vấn điều trị cho người bệnh.
Nhằm  mang những tiến bộ trong điều trị ung thư về Việt Nam, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Thu Cúc đã hợp tác với đội ngũ bác sỹ giỏi từ Singapore.  Do đó bệnh nhân điều trị ung thư vú tại đây sẽ được tư vấn và điều trị trực tiếp với các bác sỹ người Singapore, trong đó có TS.BS Pactricia Kho – bác sỹ chuyên khoa y tế ung thư có quan tâm đặc biệt đến ung thư vú, phổi, các bệnh ung thư ở phụ nữ.

Thứ Ba, 10 tháng 2, 2015

UỐNG NHIỀU CÀ PHÊ CÓ THỰC SỰ GIÚP NGĂN NGỪA UNG THƯ VÚ

Khoa ung bướu bệnh viện quốc tế Thu cúc đã tập hợp và chỉ ra những nghiên cứu của các nhà khoa học .
Nghiện uống cà phê có thể không gây tổn hại cho sức khỏe như nhiều người vẫn nghĩ. Theo một nghiên cứu mới được công bố trên tạp chí Nghiên cứu Ung thư vú: những phụ nữ sau mãn kinh trên 50 tuổi uống 5 ly cà phê hoặc nhiều hơn mỗi ngày ít có nguy cơ phát triển các khối u âm tính với thụ thể estrogen (ER-).
 Những phụ nữ sau mãn kinh trên 50 tuổi uống 5 ly cà phê hoặc nhiều hơn mỗi ngày ít có nguy cơ phát triển các khối u âm tính với thụ thể estrogen (ER-).
Tiến sỹ Jingmei Li và các cộng sự từ Viện Karolinska (KI) ở Thụy Điển đã tiến hành nghiên cứu với sự tham gia của 6.000 phụ nữ bao gồm những người không uống cà phê và những người thường xuyên uống 5 ly cà phê hoặc nhiều hơn.
Sau khi loại trừ các yếu tố bên ngoài như độ tuổi mãn kinh, cân nặng, tiền sử gia đình bị ung thư vú… có ảnh hưởng đến kết quả, nhóm nghiên cứu nhận thấy rằng những phụ nữ uống nhiều cà phê nhất ít có nguy cơ mắc một số loại bệnh ung thư vú tiến triển nhanh và phức tạp.

Một số nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng uống cà phê cũng có tác dụng làm giảm nguy cơ phát triển bệnh xơ gan, viêm gan, đái tháo đường tuýp 2, ung thư tuyến tiền liệt, đột quỵ và bệnh Alzheimer.
Cụ thể theo kết quả nghiên cứu, uống nhiều cà phê hàng ngày giúp làm giảm đáng kể nguy cơ ung thư vú âm tính với thụ thể estrogen (ER-) ở phụ nữ sau mãn kinh.  Tuy nhiên việc tiêu thụ nhiều cà phê lại không có nhiều tác dụng đối với ung thư vú dương tính với thụ thể estrogen (ER+). Các nhà nghiên cứu cho rằng có thể có một đặc tính nào đó của ung thư vú âm tính với thụ thể estrogen (ER-) nhạy cảm với cà phê.
Một số nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng uống cà phê cũng có tác dụng làm giảm nguy cơ phát triển bệnh xơ gan, viêm gan, đái tháo đường tuýp 2, ung thư tuyến tiền liệt, đột quỵ và bệnh Alzheimer.

Tuy nhiên, chúng ta cũng cần lưu ý uống quá nhiều cà phê có thể dẫn tới mất nước, tăng huyết áp.
Tuy nhiên, chúng ta cũng cần lưu ý uống quá nhiều cà phê có thể dẫn tới mất nước, tăng huyết áp. Cà phê có thể kích thích dạ dày tiết ra nhiều dịch vị dẫn đến hiện tượng rối loạn tiêu hóa hoặc nồng độ acid trong dạ dày quá cao.
Để được tư vấn về ung thư, hay đặt lịch khám và điều trị, xin vui lòng đặt lịch qua đường dây nóng tư vấn ung thư: 0907245888 hoặc liên hệ trực tiếp qua địa chỉ dưới đây để được hỗ trợ tốt nhất.

Mách bạn 8 cách để phòng ngừa ung thư vú

 Khoa ung bướu thu cúc, có sự tư vấn và điều trị từ các bác sĩ giỏi hàng đầu singapore. Ung thư vú là căn bệnh ung thư phổ biến và có tỷ lệ tử vong cao nhất ở nữ giới. Ngoài những yếu tố nguy cơ không thể thay đổi như giới tính, tuổi tác, gia đình có tiền sử mức bệnh… chúng ta vẫn có thể hạn chế rủi ro phát triển bệnh ung thư vú bằng những cách dưới đây. 
1. Hạn chế sử dụng liệu pháp hormone thay thế
Liệu pháp hormone thay thế là liệu pháp sử dụng một hoặc nhiều nội tiết tố nữ, thường là estrogen và progestin và đôi khi là testosterone để điều trị các triệu chứng của thời kỳ mãn kinh.
Trong năm 2003, tổ chức Women`s Health Initiative Study (WHI) cho thấy những phụ nữ sử dụng liệu pháp hormone thay thế làm tăng 24% nguy cơ ung thư vú. Nhận định này tiếp tục được củng cố qua nghiên cứu Million Women Study (Anh) cho thấy nguy cơ ung thư vú tăng 66% ở phụ nữ sử dụng liệu pháp hormone thay thế tổng hợp. Trong khi đó tỷ lệ này trong nghiên cứu E3N (Pháp) là 60%. Trên cơ sở những nghiên cứu này, hàng triệu phụ nữ đã nhanh chóng tạm ngừng sử dụng nội tiết tố tổng hợp.
Sau đó một nghiên cứu được phát hành bởi các trung tâm ung thư khắp nước Mỹ (11/2006) cho thấy tỷ lệ người mắc ung thư vú đã giảm đáng kể (7 – 15%). Năm 2009 một bài báo trên tờ New England Journal of Medicine kết luận rằng sự sụt giảm này là do hạn chế sử dụng liệu pháp hormone thay thế.
2. Thường xuyên luyện tập thể dục, thể thao
Tập thể dục thường xuyên có thể làm giảm đáng kể nguy cơ ung thư vú.
Tập thể dục thường xuyên có thể làm giảm đáng kể nguy cơ ung thư vú.
Có rất nhiều nghiên cứu cho thấy rằng tập thể dục thường xuyên có thể làm giảm đáng kể nguy cơ ung thư vú. Thậm chí 20 phút đi bộ 3 lần/tuần cũng có tác dụng hạn chế nguy cơ phát triển của bệnh ung thư vú.
3. Giảm thiểu lượng đường và carbonhydrate tinh chế trong chế độ ăn uống
Các loại đồ ngọt chứa nhiều carbonhydrate tinh chế có liên quan tới hàm lượng đường trong máu cao, khiến cơ thể giải phóng insulin. Insulin thúc đẩy sự phát triển của tế bào ung thư và có thể khiến nồng độ estrogen tăng cao, dẫn tới ung thư vú.
4. Hạn chế uống nhiều rượu, bia

So với những người không uống rượu, bia thì những người uống rượu, bia 3 lần/tuần có nguy cơ mắc ung thư vú cao hơn 15%.
Sử dụng rượu, bia ở mức vừa phải để giảm thiểu nguy cơ mắc ung thư vú. Nghiên cứu cho biết so với những người không uống rượu, bia thì những người uống rượu, bia 3 lần/tuần có nguy cơ mắc ung thư vú cao hơn 15%. Các chuyên gia ước tính nguy cơ mắc bệnh ung thư vú còn tăng thêm 10% đối với những phụ nữ sử dụng rượu, bia hàng ngày.
5. Tránh tiếp xúc với các chất độc hại từ môi trường
Nên giảm thiểu và tránh tiếp xúc với một số loại độc tố từ: thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, các sản phẩm tẩy rửa, sơn móng tay và nước tẩy sơn móng ta, sơn gốc dầu, chất pha loãng sơn. Không nên sử dụng các loại hộp đựng thức ăn, nước uống bằng nhựa. Hạn chế sử dụng mỹ phẩm có chứa parabens. nước xịt phòng…
6. Giảm bớt lo lắng và căng thẳng

Tập luyện yoga là một trong những cách hiệu quả để giảm bớt căng thẳng.
Tình trạng căng thẳng, stress thường xuyên ở nữ giới làm nồng độ hormone cortisol tăng cao, kéo theo nguy cơ ung thư vú cũng tăng lên đáng kể.
7. Ngủ trong phòng tối
Đây là một trong những biện pháp hiệu quả nhất để hạn chế căng thẳng. Giấc ngủ giúp cơ thể thư giãn và phục hồi sau một ngày làm việc vất vả. Ngủ trong phòng tối thúc đẩy cơ thể sản xuất hormone melatonin, làm giảm nguy cơ ung thư vú. Các nhà khoa học khuyên phụ nữ nên cố gắng ngủ từ 7 -8 tiếng/ngày.
8. Bổ sung đầy đủ vitamin D

Nguồn vitamin D dồi dào nhất được tìm thấy trong ánh sáng mặt trời khi chúng tác động lên da.
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng những phụ nữ thiếu vitamin D có nguy cơ cao mắc ung thư vú. Nguồn vitamin D dồi dào nhất được tìm thấy trong ánh sáng mặt trời khi chúng tác động lên da. Tuy nhiên cần lưu ý, tiếp xúc với ánh sáng mặt trời quá lâu hoặc lúc trời nắng gắt có thể làm tăng nguy cơ ung thư da.
Bên cạnh đó chúng ta cũng có thể bổ sung vitamin D từ các loại thực phẩm như cá hồi, cá thu và sữa.

Thứ Sáu, 6 tháng 2, 2015

Triệu chứng của ung thư vú di căn

Ung thư vú di căn là nỗi lo thường trực của những bệnh nhân mắc ung thư vú. Ung thư vú phát hiện giai đoạn sớm có tiên lượng rất khá, vậy phát hiện khi ung thư vú đã di căn cơ hội điều trị khỏi liệu có còn? dấu hiệu nhận biết ung thư vú di căn. Đó là những câu hỏi mà nhiều người nhà và bản thân bệnh mong chờ câu trả lời.
Các cơ quan mà ung thư vú thường lan đến nhất là phổi, gan, xương và não. Trong đó, ung thư vú di căn phổi chiếm từ 60 – 70% các ca ung thư vú di căn, 21% trong số đó chỉ có duy căn đến một mình phổi. Cơ quan tiếp theo sau phổi là xương với khoảng 25% các ca ung thư vú di căn. Khi các tế bào ung thư lây lan đến các cơ quan khác, các triệu chứng ung thư vú di căn sẽ phụ thuộc vào vị trí mà ung thư lây lan đến, cụ thể như sau:
Di căn phổi:
  • Ho kéo dài, khản giọng
  • Tức ngực, khó thở
Di căn gan:
  • Vàng da và mắt
  • Da ngứa hoặc phát ban
  • Đau vùng gan, trướng bụng, chán ăn, buồn nôn và nôn.

Vàng da là một trong các triệu chứng của ung thư vú di căn gan.
Di căn xương:
  • Đau xương (thường là các xương dài như xương đùi, ống chân, cánh tay…)
  • Sưng tấy ở khu vực khối u di căn đến
  • Xương yếu và dễ gãy
Di căn não:
  • Đau đầu kéo dài và ngày càng nghiêm trọng
  • Rối loạn thị giác
  • Động kinh
  • Buồn nôn và nôn
  • Thay đổi hành vi hoặc nhân cách

Ung thư vú di căn có thể gây mệt mỏi, sút cân, chán ăn ở bệnh nhân.
Triệu chứng toàn thân:
  • Mệt mỏi, sụt cân, chán ăn
  • Ung thư tại chỗ có thể xâm lấn đến da khiến da bị lở loét, chảy nước
Khi xuất hiện một trong các triệu chứng trên, người bệnh cần báo cho bác sĩ để được chẩn đoán cụ thể và đưa ra liệu pháp điều trị phù hợp. Ở giai đoạn di căn của ung thư vú, hầu hết các phương pháp điều trị không thể trị lành bệnh, nhưng có thể kiểm soát và kìm hãm sự phát triển của các tế bào ung thư, giảm nhẹ các triệu chứng cho bệnh nhân và kéo dài thời gian sống.

Thứ Sáu, 29 tháng 8, 2014

Phát hiện sớm ung thư vú

Có rất nhiều nguyên nhân gây ung thư vú, trong số đó, di truyền các gen gây ung thư vú cũng là một trong những nguyên nhân không hiếm gặp. Những thành viên trong gia đình mắc ung thư vú thì những thành viên khác, đặc biệt là những người có quan hệ huyết thống thường có nguy cơ mắc cao hơn nhiều so với những người khác. Nhưng nói vậy không có nghĩa là bệnh này chắc chắn di truyền. Những trường hợp mắc ung thư vú không do các yếu tố liên quan đến gen thì nguy cơ cho những người có cùng huyết thống cũng không cao đáng kể. Trường hợp của gia đình bạn có bà ngoại mắc ung thư vú, không biết khi mắc bệnh bà đang ở độ tuổi nào vì những trường hợp di truyền thường mắc ở độ tuổi khi còn trẻ (dưới 50 tuổi). Việc đánh giá khả năng di truyền còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố nữa nhưng dù sao tầm soát bệnh vẫn là phương án tốt nhất hiện nay để bảo vệ sức khỏe và phát hiện sớm nếu mắc bệnh này.
Bệnh ung thư vú thường mắc phổ biến từ độ tuổi 50 – 70, vì vậy chưa thể nói mẹ bạn hiện nay không có nguy cơ. Những dấu hiệu của bệnh thường không biểu hiện từ rất sớm mà muốn phát hiện ngay từ khi chớm bệnh thì các phương pháp tầm soát như siêu âm tuyến vú mamography hoặc một số phương pháp tầm soát khác cho phép nhìn thấy khối u khi còn rất nhỏ là phương pháp hữu hiệu. Phụ nữ 40 tuổi trở nên nên có lịch tầm soát định kỳ với loại bệnh này. Ngoài ra, hàng tháng bạn có thể áp dụng phương pháp tự khám vú, dùng tay ấn đều trên khắp bầu vú theo đường xoáy ốc từ ngoài vào trong để phát hiện những cục cứng bất thường nếu có.
Triệu chứng ung thư vú có phát hiện sớm được không?
Các tư thế tự khám vú giúp phát hiện những dấu hiệu bất thường là biểu hiện của ung thư vú
Trong trường hợp tự khám vú thấy một số dấu hiệu bất thường, đơn cử như có một cục cứng nhỏ ở vú, hoặc một số dấu hiệu như thấym ột cục cứng không đau ở vú, liên tục ngứa và phát ban xung quanh núm vú, chảy máu hoặc tiết dịch bất thường từ núm vú, da trên vú bị sưng và dày lên, da trên vú bị trũng hay nhăn nheo, núm vú bị kéo vào hoặc thụt vào bạn nên tới bệnh viện ngay để được làm các chẩn đoán chuyên sâu.
Bệnh viện Thu Cúc với ưu thế đội ngũ bác sỹ giỏi trong nước và ngoài nước, cùng với hệ thống trang thiết bị y tế hiện đại có thể chẩn đoán ung thư nhanh chóng, chính xác, đồng thời có hướng điều trị tốt nhất cho người bệnh.
Trường hợp cần hỗ trợ hoặc đặt lịch khám tại Bệnh viện Thu Cúc, bạn có thể liên hệ trực tiếp với Khoa Ung bướu, Bệnh viện Thu Cúc theo hotline 0907.245.888 hoặc địa chỉ dưới đây

Thứ Hai, 9 tháng 6, 2014

Nhận biết Ung thư vú thế nào?

Ung thư vú là loại bệnh trong đó các tế bào ác tính (ung thư) được phát hiện trong các mô của vú. Những tế bào này thường phát sinh từ các ống dẫn hoặc tiểu thùy ở vú, sau đó có thể lây lan sang các mô, cơ quan và các bộ phận khác của cơ thể.
Nguyên Nhân ung thư vú?

Các yếu tố gây ra bệnh ung thư vú hiện nay chưa rõ ràng. Một số yếu tố như tiền sử gia đình bị ung thư vú, bắt đầu có kinh nguyệt sớm hoặc các yếu tố nguy cơ khác. Vì nguyên nhân ung thư vú vẫn xác định, nên bất kỳ cũng đều có nguy cơ, đặc biệt là khi chúng ta đang ở độ tuổi 40 trở lên.

DẤU HIỆU VÀ TRIỆU CHỨNG
Các dấu hiệu cảnh báo của bệnh ung thư vú ?

  • Một cục cứng không đau ở vú
  • Liên tục ngứa và phát ban xung quanh núm vú
  • Chảy máu hoặc tiết dịch bất thường từ núm vú
  • Da trên vú bị sưng và dày lên
  • Da trên vú bị trũng hay nhăn nheo
  • Núm vú bị kéo vào hoặc thụt vào
    • Khoa Ung bướu, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Thu Cúc với rất nhiều chuyên gia hàng đầu trong ngành ung bướu sẽ hỗ trợ thông qua đường dây nóng để cung cấp thông tin hữu ích cho bạn hoặc người thân.
    • Bạn cũng có thể đặt lịch hẹn để được tư vấn về các thông tin mới trong chẩn đoán và điều trị ung thư, các xét nghiệm nên làm, các tác dụng phụ của điều trị ung thư, chế độ dinh dưỡng và sinh hoạt.
    • Bạn được hội chẩn bệnh và điều trị bệnh với các chuyên gia điều trị ung thư hàng đầu Singapore (Xem thông tin bác sỹ tại đây)

Thứ Sáu, 16 tháng 5, 2014

tìm hiểu về căn bệnh ung thư vú

Ung thư vú là một căn bệnh trong đó các tế bào ác tính (ung thư) được phát hiện trong các mô của vú. Những tế bào này thường phát sinh từ các ống dẫn hoặc tiểu thùy ở vú. Những tế bào ung thư này sau đó có thể lây lan trong các mô hoặc cơ quan và các bộ phận khác của cơ thể.
Ưng thư vú là căn bệnh ung thư phổ biến
Ung thư vú là nguyên nhân chủ yếu thứ hai gây tử vong ở phụ nữ ngày nay. Ở Singapore, cứ mỗi 1 trong 16 phụ nữ được chẩn đoán mắc bệnh ung thư vú trong cuộc đời họ. Phụ nữ Trung Quốc có nguy cơ cao hơn phụ nữ Malaysia hay Ấn Độ khoảng 10-20%. Tỷ lệ mắc cao nhất là trong nhóm 55 – 59 tuổi. Nguy cơ ung thư vú tăng dần theo tuổi. Các tin tức tốt là ngày càng nhiều phụ nữ còn sống sót với căn bệnh này như là kết quả của việc phát hiện sớm và điều trị được cải tiến.
Nguyên Nhân Gây Ra?
Các yếu tố gây ra bệnh ung thư này là không rõ ràng. Nó có thể được quy cho một tiền sử gia đình bị ung thư vú, bắt đầu có kinh nguyệt sớm hoặc các yếu tố nguy cơ có thể khác. Vì nó rất khó để xác định, bất kỳ ai trong chúng ta có thể có nguy cơ, đặc biệt là khi chúng ta đang ở độ tuổi 40 trở lên. Trong khi các yếu tố chưa được biết, một sự chữa trị khỏi hoàn toàn là có thể nếu được phát hiện sớm nhờ việc kiểm tra vú thường xuyên khi chữa bệnh ung thư vú